Select Menu

clean-5

Wisata

Budaya

Kuliner

Kerajaan

kota

Suku

Lịch sử phát triển Guitar ở Việt Nam

Đàn ghita xuất hiện ở Việt Nam từ bao giờ là một câu trả lời khó. Giả thuyết hiện nay được nhiều người đồng ý là đàn ghita đã theo chân các cố đạo Tây Ban Nha du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 19. Nhưng phải đến năm 1920 mới bắt đầu xuất hiện những người Việt Nam chơi ghita.

Quá trình hình thành

Những người chơi ghita đầu tiên ở Việt Nam chính là các nghệ sỹ cải lương. Với óc sáng tạo của mình, họ đã tạo ra cây ghita phím lõm, bổ sung một dòng ghita mới là ghita cải lương. Đây là dòng ghita rất phổ biến trong nhạc tài tử Nam Bộ trước 1945 với những tên tuổi nổi tiếng như Tư Chơi, Ba Kéo, Bây Cây, Chín Hòa, Phùng Há, Năm Phỉ, Văn Vĩ... Ghita phím lõm là guitar du nhập từ nước ngoài được khoét lõm phím đàn và lên dây theo âm giai ngũ cung (pentatonic) "Líu, Xề, Líu Hò, Lìu" để đàn các bài bản cải lương.

Vào thập niên 1930, tân nhạc Việt Nam phát triển cùng với số lượng người chơi ghita theo lối mới tăng lên. Bên cạnh những người diễn tấu người nước ngoài đã xuất hiện những tên tuổi Việt Nam như Phan Văn Trường, Canh Thân, Đỗ Chí Khang, Thiện Tơ, Dương Thiệu Tước. Tuy nhiên, họ đều tự học là chính chứ không được đào tạo một cách bài bản. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của ghita, các hình thức biểu diễn và diễn tấu đều mang tính tự phát. Phổ biến nhất là dạng ban nhạc gồm 4 nhạc cụ: ghita Hawaii, guitar 6 dây, Đại hồ cầm và ghita 4 dây Hawaii (ukulele), chơi hòa tấu trong các phòng trà hoặc quán bar. Các hình thức khác như song tấu hay độc tấu mãi tới thập niên 1940 về sau này mới phát triển với các tên tuổi nổi danh như Tạ Tấn, Phạm Ngữ...

Năm 1932, xuất hiện cây đàn ghita đầu tiên do người Việt Nam làm là cây đàn do cụ Xuân Lan, người làng Đào Xá (Hà Nội) chế tác. Thời kỳ này cũng xuất hiện nhiều cửa hiệu làm đàn nổi tiếng như Nhạc Sơn, Kim Thanh, Tạ Tấn.

Quá trình phát triển

Giữa thập niên 1940, cây ghita đã giành được vị thế quan trọng trong giới mộ điệu của Việt Nam. Với tính chất dễ chơi, dễ học, gọn nhẹ, ghita đã trở thành bạn đường thân thiết của các nhạc sỹ kháng chiến, giới học sinh sinh viên và nhiều người yêu nhạc.

Nhiều tác giả đồng thời là người đệm ghita rất giỏi đã xuất hiện như Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Phạm Duy, Văn Ký, Hoàng Vân, Trọng Bằng, Văn Chung, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tí...
Thời kỳ trước 1975

Tuy nhiên, vì yếu tố chiến tranh, đất nước bị chia cắt, mà nghệ thuật ghita cũng vì thế trở nên thăng trầm. Dần dần có sự phân hoá rõ rệt tại hai vùng Nam - Bắc của đất nước. Tại mỗi nơi, ghita có những đặc thù nhất định.

Tại miền Bắc, cùng với sự ra đời của bộ môn ghita trong khoá giảng dạy đầu tiên của trường Âm nhạc Việt Nam (1956) do Phạm Ngữ làm chủ nhiệm đã đánh dấu bước đi quan trọng cho thấy ghita được chính thức chấp nhận một cách rộng rãi.

Nhạc phẩm và sách giáo khoa có giá trị được biên soạn cho ghita được xuất bản một cách rộng rãi. Các nhạc phẩm của thời kỳ này hầu hết là được chuyển soạn (arrangement) từ các ca khúc Việt Nam nổi tiếng hay biến tấu (variation) trên các làn điệu dân ca. Hầu hết các trung tâm nghệ thuật quần chúng, chẳng hạn như nhà văn hoá đều có các lớp dạy đàn ghita. Nguồn tiếp xúc chủ yếu của các nghệ sỹ ghita miền Bắc là thông qua sự viện trợ các băng nhạc nước ngoài của Liên Xô và các nước Đông Âu. Buổi trình diễn ghita độc tấu đầu tiên ra mắt công chúng tại Hà Nội năm 1973 đã được hoan nghênh nhiệt liệt.

Sự mở rộng phát triển của ghita dần dần đã tạo nên lớp nghệ sỹ trẻ mới bên cạnh những đàn anh đi trước như Hải Thoại, Đỗ Trường Giang, Vũ Bảo Lâm, Quang Khôi, Phạm Văn Phúc, Nguyễn Văn Ti, Nguyễn Quang Tôn, ...

Song, do hoàn cảnh chiến tranh, thiếu bài bản và điều kiện tổ chức, thiếu cả sự liên hệ với nền nghệ thuật ghita thế giới, và thiếu cả nghệ sĩ ghita bậc thầy được đào tạo chính quy nên nghệ thuật ghita ở miền Bắc lúc đó phát triển chậm và không đều.

Ở miền Nam, sự phát triển của guitar có phần thuận lợi hơn. Đàn ghita được đưa vào chương trình giảng dạy của trường Quốc gia Âm nhạc Huế và trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn từ 1956. Thêm vào đó, giới mộ điệu ở Sài Gòn được tiếp xúc nhiều hơn với ghita cổ điển thế giới thông qua những buổi trình diễn của các bậc thầy như Siegfried Behrend, Julian Bream, Alice Artzt,... Ghita từ chỗ phổ biến ở phòng trà, dần dần đã đi vào đời sống thường nhật. Có rất nhiều dòng ghita cùng song song tồn tại và hỗ trợ cho nhau rất tốt như ghita cổ điển, ghita flamenco, ghita jazz. Một vài tên tuổi nổi tiếng trong thời kỳ này phải kể đến Đỗ Đình Phương, Trương Huệ Mẫn, Võ Tá Hân, Hoàng Bửu, Trần Văn Phú hay Hoàng Liêm, Văn Trổ...
Thời kỳ sau 1975

Đất nước thống nhất, nghệ sỹ ghita ở hai miền có dịp gặp nhau, trao đổi kinh nghiệm, bài bản và kỹ thuật. Từ đó tạo cơ sở cho nền nghệ thuật ghita non trẻ của Việt Nam có dịp phát triển lên một trình độ mới.

Chính từ những cuộc biểu diễn khá đều đặn trong thập niên 1980 tại thính phòng nhỏ của Nhà văn hóa quận Phú Nhuận mà công chúng yêu nhạc cổ điển Sài Gòn đã biết đến một loạt tên tuổi mới của làng ghita như Phạm Quang Huy, Châu Đăng Khoa, Nguyễn Thái Cường, Huỳnh Hữu Đoan, Dương Kim Dũng,... có cả những nghệ sĩ nữ tài năng như Ngô Thị Minh, Nguyễn Thị Phi Loan...

Thập niên 1980 cũng có thể nói là giai đoạn chín mùi về tài năng và đỉnh cao về nghệ thuật của Phùng Tuấn Vũ nghệ sĩ ghita hàng đầu Việt Nam và là người góp phần đào tạo hàng loạt tên tuổi mới của ghita Việt Nam sau nàỵ. Trong khi đó, ở Hà Nội cũng xuất hiện những tài năng mới đầy triển vọng như Đặng Ngọc Long, Phan Đình Tân, Phạm Văn Phương, Nguyễn Lan Anh... Trong số những cái tên vừa kể, Đặng Ngọc Long, được tu nghiệp ở Đông Đức, là nghệ sĩ ghita (guitarist) đầu tiên của Việt Nam được theo học tại một quốc gia có nền nghệ thuật ghita phát triển.
Hiện tại

Kể từ sau năm 1990, ghita cổ điển cũng như nghệ thuật ghita nói chung dường như bước vào thoái trào. Giới ghita cổ điển chỉ còn gói gọn trong các nhạc viện. Những nghệ sỹ lớn hầu hết đều chuyển sang chơi nhạc nhẹ hoặc rời ra nước ngoài. Nghề làm đàn ghi-ta, vĩ cầm, mandoline… cũng đang ngày càng tàn lụi, cả Sài Gòn chỉ còn khoảng 10 điểm sản xuất đàn với 2 – 3 nghệ nhân sống chết với nghề. Và hiếm hoi lắm người ta mới tìm được một thương hiệu ghi-ta nghiêm túc tại Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung.

Tuy nhiên ghi-ta vẫn luôn có chỗ trong lòng công chúng yêu nhạc. Rất nhiều cuộc thi có quy mô đã được tổ chức. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, mạng Internet, sự giao lưu của những người yêu ghi-ta đã không bị giới hạn trong một vùng cụ thể mà có thể thường xuyên tìm hiểu trao đổi học hỏi với bên ngoài.

Các bộ phận của đàn Guitar Acoustic

Trước khi học và chơi đàn Guitar, người chơi cần hiểu về cấu tạo cơ bản của đàn, bởi vì nó là nhạc cụ đưa bạn đến gần hơn với thứ ngôn ngữ của toàn nhân loại.

Biết các bộ phận và chức năng của Guitar sẽ giúp bạn chắc chắn rằng bạn đang điều chỉnh được âm thanh tốt nhất. Khi bạn biết làm thế nào để có được âm thanh tốt nhất thì bạn cũng sẽ có khả năng và kĩ thuật cao hơn để trở thành một nghệ sĩ Guitar chuyên nghiệp.

Bài viết này sẽ đề cập đến các bộ phận cơ bản của Guitar Acoustic.

1. Đầu đàn (Headstock)
Kết thúc cần đàn chính là đầu đàn. Nó được trang bị các bộ khóa, dùng để chỉnh dây, thay đổi cao độ của cây đàn Guitar.

Hình dạng của đầu đàn xác định cách bố trí của các bộ chỉnh. Một số Guitar có sáu bộ chỉnh trên một mặt và một số khác có thể có 3 bộ chỉnh mỗi bên. Hình dạng của đầu đàn có thể ảnh hưởng đến những giai điệu của cây đàn Guitar vì cách nó rung.

Góc mà tại đó đầu đàn được gắn vào phần cuối của NUT sẽ ảnh hưởng đến tính bền vững (độ ngân của âm thanh trong bao lâu) và ảnh hưởng đến sức căng của các dây đi qua các ngựa đàn. Một cây đàn Guitar Acoustic có đầu đàn gắn ở một góc độ không đúng kĩ thuật sẽ dễ bị vỡ nếu Guitar rơi khỏi chân đế.


2. Bộ chỉnh (Tuners):
Bộ phận này là chốt điều chỉnh sức căng của các dây đàn Guitar Acoustic để nâng cao hoặc thấp hơn cao độ của dây đàn, phụ thuộc vào cao độ cao hay thấp mà bạn xoay theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ.
Có một vài mẫu thiết kế của bộ chỉnh, trong đó có nhiều bộ chỉnh có chất lượng rất tốt. Trong trường hợp bạn có một cây đàn Guitar chất lượng không tốt mà bạn muốn thay đổi bộ chỉnh với hi vọng nâng cao chất lượng âm thanh của đàn thì chúng tôi khuyên bạn không nên. Bởi vì bộ chỉnh không phải là yếu tố chính tạo nên sự tuyệt vời của Guitar Acoustic, muốn thay đổi bạn cần thay đổi trên toàn bộ cây đàn.

Một bộ chỉnh tốt không quá đắt. Nếu bạn không có đủ điều kiện để chọn mua một cây Guitar cao cấp thì có thể sử dụng một cây Guitar giá rẻ, thay bộ chỉnh tốt giúp âm thanh Guitar giá rẻ ổn định và dễ điều chỉnh hơn.

3. Nut - Lược đàn:
Là một thanh nhựa (hoặc sừng) màu trắng mỏng (hoặc đen) ngăn cách giữa cần đàn và đầu đàn. Nó tách biệt mỗi dây đàn Guitar cổ định để chúng cách đều nhau.

Nó nằm giữa đầu và cần đàn.
Các NUT có thể ảnh hưởng đến những giai điệu của cây đàn Guitar Acoustic. Nó thực sự là một vấn đề liên quan nhiều đến sở thích cá nhân, nhưng hầu hết đều đồng ý rằng một NUT chế tạo bằng xương có chất lượng âm thanh thực sự tốt hơn NUT bằng nhựa.

4. Cần đàn (Neck):

Cần đàn Guitar bằng gỗ thuôn dài nối đến đầu đàn. Mỗi dây đàn sẽ chạy dọc trên cần đàn. Và tùy thuộc vào nơi ngón tay của bạn được đặt trên cần đàn, bạn sẽ tạo ra những âm thanh khác nhau. Mặt của cần đàn là nơi đặt các phím đàn Guitar Acoustic.

Chất lượng của gỗ, hình dạng và kết nối của các cần đàn sẽ ảnh hưởng đến âm thanh của cây đàn Guitar Acoustic.
Hình dạng của cần đàn sẽ quyết định đàn Guitar dễ dàng hơn hoặc khó khăn hơn để chơi, tuy nhiên khó khăn hay dễ dàng cũng phụ thuộc nhiều vào sở thích cá nhân của từng người và phụ thuộc vào bàn tay. . Cần đàn dày hơn sẽ truyền âm thanh theo một cách khác hơn một cần đàn mỏng. Tuy nhiên khi chọn lựa, nếu bàn tay của bạn có thể bao trọn cần đàn thì âm thanh sẽ hay hơn.

5. Dây đàn:
Dây của Guitar Acoustic khác với Guitar điện. Có một vài loại khác nhau của Guitar acoustic. Guitar Classtic có dây nylon và Guitar Acoustic có dây kim loại. Độ dày và thành phần của chuỗi tạo sự khác biệt lớn trong âm thanh.

Nếu bạn biết những loại âm thanh mà bạn muốn thì có thể tham khảo người phân phối dây đàn, họ sẽ chỉ cho bạn biết dây đàn nào là phù hợp với dòng nhạc bạn đang chơi và âm thanh bạn đang muốn hướng tới. Đôi khi một tay Guitar nổi tiếng mà bạn ngưỡng mộ có thể có những kết hợp độc đáo để tạo ra âm thanh riêng biệt. Bạn có thể học hỏi điều này từ họ vì không có tiêu chuẩn nào cho việc kết hợp dây trên Guitar Acostic.

6. Phím đàn:
Phím đàn là các mảnh kim loại mỏng trên cần đàn đặt vuông góc với dây đàn guitar, và có tác dụng như "tách giai điệu" cho Guitar. Chúng chia cần đàn ra thành những đoạn cách nhau nửa cung hay 1 cung, tạo ra một mạng lưới các nốt nhạc để bạn chơi.

7. Fret Markers:
Là những phần đánh dấu trên cần đàn. Tuy không có tác dụng hoặc ảnh hưởng đến âm thanh nhưng nó giúp bạn nhận biết tay bạn đang di chuyển ở đâu trên cần đàn.
Bộ phận này giúp ích nhiều cho những người mới tập chơi Guitar Acoustic.

8. Hộp cộng hưởng (Body):
Thân đàn là phần lớn nhất trong các bộ phận của một cây Guitar Acoustic. Đây còn được gọi là buồng cộng hưởng âm thanh. Âm thanh sẽ đi vào trong buồng cộng hưởng và thoát ra qua lỗ thoát âm.

Thân đàn được chế tạo bằng gỗ, những thiết kế nghề thủ công tinh xảo sẽ tạo ra khác biệt trong âm thanh.

9. Lỗ thoát âm (Sound Hole):
Các lỗ thoát âm là nơi để âm thanh thoát ra khỏi thùng đàn. Khi gảy dây đàn thì tần số âm thanh sẽ cộng hưởng với thùng đàn, thoát ra qua lỗ thoát âm làm cho lớp không khí xung quanh thùng đàn dao động cùng tần số và tai ta nghe được âm thanh

10. Ngựa đàn (Bridge):
Ngựa đàn guitar là nơi giữ dây đàn vững chắc trên thùng đàn để chúng không bị thay đổi cao độ. Khi gảy dây đàn, rung động chạy dọc theo cần đàn từ ngựa đàn đến đầu đàn
Tùy theo thiết kế và sở thích của từng người mà ngựa đàn sẽ cao hoặc thấp. Ngựa đàn thường được làm bằng mica hoặc xương.

11. Chốt cầu:
Đây là những hạt sử dụng trong Guitar Acoustic để ghim chặt dây đàn vào ngựa đàn.

Đàn guitar và lịch sử ra đời

Đàn ghi-ta (tiếng Pháp: guitare; tiếng Anh: guitar), còn được biết đến dưới cái tên Tây Ban cầm, vốn xuất xứ là một nhạc cụ có cách đây hơn 5000 năm (loại ghi-ta cổ), sau này người Tây Ban Nha mới cải tiến nó thành đàn ghi-ta ngày nay. Đàn ghi-ta ngày nay có 6 dây, tuy nhiên vẫn tồn tại những loại đàn ghi-ta có 4, 7, 8, 10 và 12 dây. Nó là một loại nhạc cụ có phím và dây, có ứng dụng rộng rãi trong các loại nhạc, có thể đệm cho hát, hòa tấu hoặc chơi độc tấu.

Đàn ghita có một lịch sử phát triển lâu dài, có lẽ khởi đầu từ chiếc dây cung của những người thợ săn cổ. Tiếng bật của dây cung khi mũi tên được phóng đi đã gợi ý cho người xưa sáng tạo ra đàn lia, đàn hạc và đàn luyt. Những chiếc đàn này được làm từ gỗ, mai rùa và gân động vật. Ở Hy Lạp, thế kỷ 7, người ta thấy xuất hiện phổ biến đàn lia và đàn cithara (một loại đàn lớn cồng kềnh, bắt chước cơ cấu của đàn lia với mặt gỗ to bản).

Từ "ghita" (guitar) bắt nguồn từ chữ cithara. Cây đàn ghita đầu tiên có lẽ xuất hiện ở Ai Cập và Babylon từ 1000 năm trước Công nguyên. Trải qua nhiều biến đổi, nó được những đạo quân xâm lược mang đến châu Âu khoảng thế kỷ thứ 8 và phát triển rực rỡ vào thế kỷ 14, đặc biệt tại Tây Ban Nha.

Cùng với những nhạc cụ biểu diễn lưu động khác, cây đàn rebec (đàn violon 3 dây thời cổ) có bầu tròn đã theo chân các đạo quân xâm lược tới Tây Ban Nha, trở thành một nhạc cụ phổ biến, làm nên một làn gió mới cho cuộc sống của những người dân nơi đây. Rất nhiều nhạc sỹ đã sáng tác Văn bản liên kết dựa trên thanh âm của đàn Rebec. Thậm chí Giáo hội Tây Ban Nha đã phải ra lệnh cấm các nhà thờ được chơi loại nhạc cụ này vì tính chất phóng khoáng xô bồ của nó.

Người ta không biết từ guitarra xuất hiện ở Tây Ban Nha từ khi nào. Tuy nhiên, trong suốt thế kỷ 14, có hai loại nhạc cụ mang tên guittara là đàn guittara Latina và guittara Moisca đã chiếm ngôi vị độc tôn ở xứ sở bò tót.

Nhạc cụ bộ dây cổ nhất được tìm thấy tại khu vực Alaja Huyuk (thuộc bán đảo Anatoli) có niên đại 1400 trước Công nguyên. Người ta còn tìm thấy một bức tượng đá cổ ở Hy Lạp minh hoạ một phụ nữ đang ôm đàn. Điểm đặc biệt là tư thế của nàng trùng khớp với tư thế chơi đàn của các nghệ sỹ ghita ngày nay.

Vào thế kỷ thứ 15 vihuela là nhạc cụ đầu tiên mang đầy đủ những đặc trưng của cây đàn ghita. Những bản nhạc viết cho nhạc cụ này còn lưu giữ được cho thấy sự hoàn thiện đáng kinh ngạc.

Những cây đàn đầu tiên tại Ý mang lại những cải tiến đáng kể, làm nên đặc trưng của cây ghita ngày nay. Đàn có một lỗ thoát âm duy nhất, một cần đàn và các khoá. Dây đàn thường gồm 4 dây đôi (như đàn mandoline) và một dây đơn. Hộp đàn có hình số 8 và dài hơn so với cây đàn ghita hiện đại.

Tuy nhiên, phải đợi đến thế kỷ 19, dưới bàn tay tài hoa của nghệ nhân bậc thầy Antonio de Torres Jurado (1817-1892) cây đàn ghita mới tìm được sự hoàn hảo của mình: đơn giản và thanh thoát. Đầu tiên phải kể đến tỉ lệ cân xứng. Trong thùng đàn, de Torres đã thay cho 4 hoặc 5 thanh ngang truyền thống bằng một hệ thống 7 thanh gỗ hình dẻ quạt. Chúng được phân chia tỷ lệ một cách chuẩn xác đến mức sau này không ai có thể vượt qua và nhờ đó những cây đàn của de Torres luôn có âm thanh mượt mà, truyền cảm và sức ngân vang rất êm, rất sâu. De Torres cũng là người tìm ra độ dài chuẩn mực của dây đàn là 65 cm. Có thể nói cho đến nay, khó ai có thể vượt qua sự mẫu mực về thanh âm và hình dáng của cây đàn của de Torres.

Một trong những giai đoạn phát triển tột bậc của cây đàn sáu dây là thời vua Ludwig XIV. Người ta có thể thưởng thức tiếng đàn từ trong cung đình giàu sang tới những góc chợ nhỏ của những người bình dân. Ai ai cũng say mê ghita cho dù họ ở giai tầng nào của xã hội. Tuy nhiên, chính vì ý nghĩ kỳ quái của tầng lớp quý tộc rằng họ đang cùng thưởng thức âm nhạc với giới bình dân mà cây đàn ghita đã có một thời gian dài không hề xuất hiện ở nơi cung đình.

Dù thế, cây đàn ghita vẫn âm thầm phát triển. Với cảm hứng nghệ thuật từ cuộc sống bình dân, họa sĩ Michelangelo Merisi da Caravaggio đã sáng lập ra một trường phái nghệ thuật pha trộn giữa tĩnh vật và phồn thực mà tâm điểm của nó là tiếng đàn ghita phóng khoáng và những bước nhảy vui nhộn bên bàn tiệc của những cô nàng hầu gái và những anh chàng nông phu hồn hậu. Có thể nói đây cũng là tiền đề dần hình thành nên dòng nhạc flamenco vô cùng quyến rũ, đặc trưng Tây Ban Nha.

Những tên tuổi như Ferdinando Carulli (1770-1841), Fernando Sor (1778-1839), Mauro Giuliani (1781-1829), Matteo Carcassi (1792-1853) và đặc biệt là Francisco Tárrega (1852-1909) đẵ góp phần đưa tiếng đàn ghita trở lại đời sống âm nhạc hàn lâm. Những bản nhạc kinh điển không chỉ mô phạm mà còn tràn đầy tính biểu cảm và sự tinh tế. Với mong muốn cây ghita có một vị trí trong dàn nhạc giao hưởng, Tárrega đã không ngừng phát triển kỹ thuật chơi nhạc ghita, chuyển soạn các tác phẩm của Frédéric Chopin, Robert Schumann, Johann Sebastian Bach cho ghita.

Sau này, tiếp nối con đường của Francisco Tárrega, Andrés Segovia (1893-1987) cùng với cây lục huyền cầm lần lượt chinh phục tất cả các phòng hòa nhạc.

Bên cạnh sự phát triển của dòng nhạc hàn lâm, cây ghita cũng rẽ nhánh sang dòng âm nhạc bình dân mà đáng kể nhất phải nói đến flamenco. Kết hợp giữa tiếng ghita chau chuốt, nhịp điệu nhanh, những bước nhảy, tiếng vỗ tay hay là dậm gót của các vũ công, flamenco thực sự mang đến cho người thưởng thức sự tươi đẹp của tâm hồn Tây Ban Nha. Biết bao thế hệ nghệ sĩ flamenco đã nói tiếp nhau giữ gìn và mở rộng dòng nhạc này. Tuy nhiên, họ kế nghiệp nhau chủ yếu bằng cách học truyền khẩu nên tên tuổi và âm nhạc của họ cũng chỉ được "truyền khẩu" trong dân gian. Ramón Montoya (1880-1942) là người duy nhất đã đưa được flamenco tới các phòng hòa nhạc. Làm được điều này là do ông đã kết hợp một cách hài hoà sự thuần khiết của flamenco và tính kỹ thuật của ghita cổ điển.

Sang đầu thế kỷ 20, cây ghita sáu dây đã có sự phát triển mạnh mẽ trong mọi tầng lớp xã hội. Cùng với những biến chuyển mới trong đời sống nghệ thuật, kinh tế, xã hội, chính trị, tiếng đàn ghita đã rẽ sang các nhánh mới như nhạc rock, nhạc jazz và trở thành nhạc cụ phổ thông nhất trong đời sống âm nhạc hiện đại.

Theo wikipedia

Kerajaan